Vô Thường

...tìm trong vô thường có đôi dòng kinh...

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Phai

Lời Kinh trong lòng bàn tay:
“Người lỡ làm điều tội lỗi, nếu không biết hối hận, không biết dừng lại dòng suy nghĩ bất thiện đang tuôn chảy trong tâm; những tội lỗi đã làm nhất định sẽ đổ về cuộc đời họ, không thể trốn tránh, như nước dù ở đâu cũng sẽ luôn tìm về biển, để biển không bao giờ cạn, để bất an trong trong lòng không bao giờ vơi. 
Nếu biết tội lỗi rồi hối hận, biết đem chân thành lấp đầy những vết thương đã làm ngày trước ngày trước, như giọt mưa bền bỉ xóa những dấu vết trên mặt đất, những lỗi lầm ngày trước cũng sẽ phai đi”.(1)
Ai cũng từng làm người tổn thương. 
Nhưng đâu phải ai cũng biết đem chân thành ra rồi bỉ khỏa lấp từng vết thương mà mình đã tạo ra ngày trước. 
Có những vết thương rất lớn, chân thành rất lâu vẫn chẳng đủ để lấp đầy, nhưng vết thương đã bớt sâu rộng hơn, bớt đau hơn.


Vô Thường
Chùa Bé Bé.1.4.2012
_____________________________
[1] Từ dòng thứ 11 đến 13, khung thứ 2, trang 722, bộ kinh mang mã số 784, tập 17, Đại Chính. 

P/s: Này Người! Đi đâu làm gì cũng nghĩ mình là con của Phật.


Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2012

Vầng Trăng Của Ryokan

Ryokan(1) là một tu sĩ, sống trong ngôi nhà nhỏ giữa lưng chừng núi. Ngôi nhà luôn rộn tiếng chim và thoang thoảng hương thơm theo từng mùa hoa rừng. Nhà chẳng có gì nhiều, chỉ vài vật dụng sinh hoạt cần thiết và những quyển sách.
Lâu lâu, Ryokan lại khép cửa, xuống núi, đi cả mấy tuần liền. Ryokan mang theo quyển sách đang viết dở dang…
Lần nọ, khi trở về tới nhà, trời đã tối, trăng sáng. Từ ngoài sân Ryokan thấy tên trộm đang cố lục tung căn nhà nhỏ của mình. Nhưng chẳng có thứ gì đáng giá. Tên trộm thất vọng trở ra. 
Ryokan vẫn đứng ngoài sân, cởi chiếc áo ngoài đang mặc. Yên lặng…
Tên trộm bất ngờ khi thấy người. Hắn chưa kịp phản ứng gì, Ryokan đã bước tới: “Đường xa thế này… anh bạn vất vả lên đây thăm tôi. Tôi không đành lòng để anh về không. Sương xuống nhiều rồi, anh khoác tấm áo này vào cho đỡ lạnh… đường xa… ”.
Tên trộm bối rối trước thái độ của Ryokan, hắn đứng yên để mặc Ryokan choàng áo lên người mình, rồi lầm lũi bỏ đi.
Ryokan nói với theo: “ta còn muốn tặng cho anh cả vầng trăng để soi sáng con đường anh xuống núi”.
Sáng hôm sau, Ryokan thấy chiếc áo của mình được xếp cẩn thận để dưới mái hiên. Ryokan hoan hỷ, nheo mắt cười: “cuối cùng, ta cũng đã tặng được cho người một vầng trăng…” 

Vô Thường (viết lại)
Chùa Bé Bé. Thủ Thiêm. 16.3.2012

_____________________________
[1] Ryokan Taigu sinh năm 1758 trong ngôi làng duyên hải Izumozaki tỉnh Echigo, Ryokan chọn cho mình cuộc sống ẩn tu giản dị, Sư là một trong ít những vị tu sĩ tại Nhật cả đời sống bằng khất thực nuôi thân. Về già, Ryokan về ẩn tu trong một ngôi am nhỏ giữa rừng thông. Ryokan mất năm 1831





Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

Mùa Thương

Mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông, rồi đến mùa thương.
Ta rất muốn gọi những ngày cuối năm là "mùa thương", chỉ mấy ngày thôi, nhưng vẫn đủ để làm một mùa.
Ta có xuân để ra đi, mùa hạ để tìm kiếm, mùa thu để lao xao, mùa đông để se sắt, và "mùa thương" để trở về.
Mùa thương, những ngày cuối năm, gió Bấc thổi mạnh. Ù.. ù… Đồng cỏ sau làng bạc trắng xao xác, có người trở về, ngồi xuống bậc thềm dưới mái hiên, loay hoay tháo dây giày…
Trong giày có những hạt cát. Cát từ mùa xuân. Cát từ mùa hạ. Cát từ mùa thu. Cát từ mùa đông. Cát từ những tháng ngày mải miết. Ta nghiêng giày, đổ hết ra sân! Để giày ngủ ngoài hiên.
Về nhà để được đi chân trần. Gia đình là nơi duy nhất chúng ta đi chân trần mà không phải e ngại gì.
4.30h sáng, sẽ có chuyến tàu hỏa kéo hồi còi thật dài chạy qua làng.
Mẹ trở dậy quét sân. Gom hết cát hôm qua đổ ngoài góc vườn. Ngoài góc vườn, mớ cát ta mang về từ những tháng ngày mải miết sẽ ngủ thật ngoan…

Vô Thường
[01/15/2012 11:11 pm]
Om Mani Padme Hum


Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2011

Mùa Thu Sài Gòn

“Sài Gòn không có mùa thu
Mưa chiều trắng con phố cũ”
Thực ra Sài Gòn cũng có mùa thu. Mùa thu của riêng Sài Gòn. Mùa thu Sài Gòn rất nhẹ, rất mỏng. Chưa đủ để có thể đưa tay ra và chạm vào được tiết trời mát lạnh. Mùa thu Sài Gòn như đầu sợi dây đàn, vẫn rung lên khúc mùa thu, nhưng rung rất khẽ. Tinh tế như cỏ cây, nhưng không phải cỏ cây nào trên đất Sài Gòn cũng có thể nghe được mùa thu tới. 
Phải qua hết thu phân, cây đại trong sân mới giật mình vàng rực rồi vội vã trút lá, kẻo lại hết mùa thu. Đến tận lúc này, người Sài Gòn mới thấy mùa thu. Mùa thu đã vơi đi một nửa…
Mùa thu qua những con đường rợp bóng me, để lại những dấu chân bé li ti vàng úa.
Mùa thu loanh quanh theo con đường ven sông Sài Gòn mát rượi những tán cây bàng, để lại những dấu chân đỏ ối chênh vênh.
Có người cúi xuống, cẩn thận, nhặt lấy những dấu chân mùa thu để lại.

Vô Thường
Sài Gòn.29.10.2011


Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

Có Một Mùa Lau Chín


Ngoài quê lũ đã về. Mấy ngày rồi. Lũ không lớn. Nhưng cũng đủ ngập vạt cỏ lau ngoài bến sông. Năm nào cũng vậy. “Lạ lắm nha, không mưa nhưng lũ vẫn về”, chị cố giải thích.
Có gì đâu, bình thường thôi. Đâu phải lần đầu như vậy.
Xưa, cũng đã có những ngày như vậy. Đúng ra hình như năm nào cũng có. Không mưa nhưng lũ vẫn về.
Một ngày mới vẫn bình thường. Sáng cũng có nắng lên. Nhưng ngoài sông, nước bắt đầu đỏ đậm dần, rồi dâng cao mãi. Ngập vạt lau, ngập luôn bến sông, tràn vào cả những cánh đồng.
Mưa ở thượng nguồn.
Sông dỗi hờn ai đấy tận phía xa kia, rồi chông chênh, ngã đổ về một phía, nhấn chìm vạt cỏ lau trong nỗi niềm của mình. Có gì đâu….
Giống con người, những lúc dỗi hờn, lòng sông cũng mang đầy bụi. Nhưng lòng lau xưa nay vẫn vậy, luôn bao dung và vô nhiễm. Có gì đâu…
Lũ rút, lòng lau vẫn nhẹ, vẫn vậy. Nhưng tấm thân lau đã vương đầy bụi, đầy những nỗi niềm từ lòng sông, nặng lắm rồi. Lau muốn nằm. Gió lay gọi mấy cũng chẳng muốn dậy. Mệt.
Có sao đâu. Tạo hóa cho lau sức sống vô tận. Đủ để chịu được mọi cung bậc tình cảm của dòng sông. Từ những ngày mưa lũ trắng đồng, đến những ngày sông khô cháy đến cạn lòng, không còn đủ nước để về biển.
Như một lời tạ tội. Sau những ngày mưa điên cuồng sẽ có những cơn mưa thật hiền. Mưa hiền, dòng sông cũng hiền. Mưa như muốn dang rộng đôi tay của mình ra ôm lấy từng thân lau đang mỏi mệt. Mưa tỉ mẩn gỡ từng hạt bụi trên thân lau, rồi nhẹ nhàng đỡ lau dậy. Sau mưa, trên khóe mắt lau vương những giọt nước trong veo, chứa trong lòng cả đất trời. Lau khóc bằng những giọt nước mắt của mưa.
Dòng sông lại bao dung, lại mang trong lòng vạt lau xanh ngắt. Nước sông trong xanh trở lại và long lanh như mắt người. Sông cũng chỉ muốn thấy lau cười. Thế thôi. Thì lau cười.
Sáng mai, khi trời sáng, lũ lau sẽ dìu nhau đứng dậy. Có gì đâu….
Có gì đâu, nếu sáng mai Sài Gòn vắng bước chân ta.
Ta không trách Sài Gòn mênh mông. Sài Gòn hãy cứ mênh mông để còn đủ rộng để bao dung những phận người lam lũ khắp cả nước. Sài Gòn của ta không sợ xấu, đúng không? Ta không trách Sài Gòn đầy bụi, vì ta cũng chỉ là một hạt bụi. Một hạt bụi luôn mong muốn có đủ khả năng định hướng cho dòng đời bất tận của mình.
Có gì đâu, nếu sáng mai, ta đã ở trong căn phòng ngày xưa của mình và nghe tiếng tàu hỏa kéo hồi còi thật dài chạy qua làng.
Nhiều lúc, về nhà, chỉ để nhìn vạt lau dìu nhau đứng dậy sau những ngày bão lũ. Ta cũng chống tay đứng dậy, hít một hơi thật sâu, và mỉm cười: có gì đâu.
Ta từng ngồi với lau trong những ngày lũ, từng ướt mắt với lau trong những ngày mưa, từng se lòng nhìn vạt lau đỡ nhau đứng dậy trong những ngày nắng, nên có lý do để chờ đợi một mùa lau chín.
Sẽ só một mùa lau chín, đúng không? Sẽ có một mùa lau chín, và ngày ấy ta sẽ lại về.
Tháng giêng hai sẽ có mùa lau chín, cả vạt lau trắng muốt, một thứ màu không phai.
Tháng giêng hai gió cũng bắt đầu thổi mạnh…

Người có về nghe gió qua sông?!


Vô Thường.
Saigon.2h32'.26.6.2011




Thứ Bảy, 12 tháng 2, 2011

Mùa Lúa Chét

Miền Trung đang mùa lúa chét. Nhưng lũ đã về rồi, mùa lúa chét chết chìm.
Nhiều người gọi mùa lúa chét là mùa lúa trời.
Sau khi gặt xong, cánh đồng được giữ nguyên. Lũ về tới nơi rồi, chẳng cày cuốc làm gì nữa. Những năm lũ về trễ, hay lũ về không nhiều, người dân lại được mùa lúa chét.
"Mùa lúa chét", mới gọi tên thôi cũng đã thấy nao lòng. Có gì ấy như là chắt là mót.
Sau vụ mùa dài, ruộng cằn cỗi; những gốc rạ mệt mỏi, bạc phếch, chỉ muốn nằm xuống ngủ một giấc, nhọc nhằn quá rồi còn gì. Chỉ lũ rễ nằm sâu dưới đất là không biết vụ mùa đã qua, vẫn cần mẫn chắt mót trong mớ đất bạc màu, tìm được tí gì ấy vội trao hết cho cây. Những gốc rạ chẳng đành lòng nằm nghỉ, xé thân ra nảy những chiếc mầm.
Còn rễ cây còn nảy mầm.
Những chiếc mầm liêu xiêu lớn lên trong gió chướng.
Còn mầm cây còn ra hoa.
Lúa chét không trĩu hạt như lúa mùa, vì luôn phải thon thót giật mình bởi tiếng sấm báo mưa, còn phải nhón người lên để trông tin lũ.


Vô Thường
Phú Yên. 12.02.2011

Thứ Hai, 8 tháng 11, 2010

Người Ần Sĩ Và Chú Ếch

Ngày xưa, trong khu rừng nọ, có vị ẩn sĩ sống cuộc đời khổ hạnh. Ông sống trong một am tranh nhỏ cách xa xóm làng. Phía trước am tranh là một hồ nước rộng. Ông gần như không vào làng. Trái cây và những loại rau rừng đủ để ông sống qua ngày. Ông chẳng cần gì nhiều, ông chỉ cần cuộc sống yên tĩnh, và thứ này, khu rừng thừa sức cho ông.
Suốt bao nhiêu năm, cuộc sống của vị ẩn sĩ vẫn bình yên như vậy.
Một ngày nọ, có chú ếch vào am tranh ông chơi! Ông nhìn chú ếch mỉm cười! Chú ếch chăm chú đưa mắt nhìn ông rồi nhảy ra. Ông nói với theo: 
- “Khi nào rảnh lại đến chơi nha anh bạn”!!! 
Hôm sau, cũng vào giờ ấy, chú ếch lại đến chơi với ông thật! Rồi những ngày tiếp theo, chú ếch đến lều tranh của của ông đều đặn.
Họ trở thành bạn thân, chú ếch ngày một dạn, đến ngồi cạnh ông, có khi còn nhảy hẳn vào lòng ông!!!  
Người và ếch làm bạn với nhau kể ra cũng bất tiện. Vị ẩn sĩ nói với chú ếch: 
- “Để ta biến ngươi thành người”. 
Ông làm phép vào một cốc nước, và rắc lên chú ếch. “Bùm…” chú ếch biến thành người, một chàng trai khôi ngô hơn người. Đám trai trong làng không ai bằng được! Vị ẩn sĩ xem đó như đứa con trai của mình, và chàng trai “ếch” cũng coi vị ẩn sĩ như cha.
Hai người sống chung trong ngôi am tranh nhỏ nơi cuối thôn, cách xa mọi người.    
 Vào một buổi chiều, hai cha con ngồi trước am tranh. 
“Con này!”,  
“Dạ!”, 
“Con cũng đã lớn rồi”. 
“dạ”, 
“Con hãy vào làng và tìm cho mình người bạn đời”.
“Dạ”. 
“Ngày mai con hãy vào làng”. 
“Dạ”.
“Nếu làng này không có con hãy đến ngôi làng khác”. 
“Dạ”, 
“Khi nào tìm được mới thôi”. 
“Dạ”. 
“Không tìm được là bố không cho về lại nhà đâu đấy”.
“Dạ…”

   Một năm sau, chàng trai trở về, chỉ một mình, cậu đã đi khắp cả nước, nhưng không tìm được ai. 
- “Con không tìm được người nào như ý?”. 
- “Dạ”.
- “Nếu thế thì thôi, con sống với bố vậy”.
- “Dạ”. 
- “Sống như bố cũng được, phải không?”. 
- “Dạ”.
   Nói thế, nhưng vị ẩn sĩ vẫn thắc mắc, “biết bao nhiêu người, sao nó lại không chọn được ai?”. Ông không hiểu được.

Khi mùa mưa về, lũ chim tất bật làm tổ, từng đàn bướm kéo về đầy cả khu rừng, chúng chuẩn bị cho mùa sinh sản.
Đêm đêm từ chiếc hồ trước am tranh vọng vào tiếng lũ ếch gọi nhau rộn rã, trong giấc mơ, chàng trai như nghe có ai gọi mình. Không nhận ra ai, nhưng nghe thân quen lắm, cậu trở dậy, ra khỏi nhà, đi về phía hồ, như một kẻ mộng du.
Sáng sớm, khi dậy, vị ẩn sĩ không thấy con trai đâu, “có lẽ hắn đi đâu một tí”, đến trưa vẫn chưa thấy trở về, “hắn đi đâu nhỉ, không nói với mình một tiếng, hắn đâu có thói quen như vậy. Đi đâu cũng nói cho mình biết. Mà trong khu rừng hoang này, có thứ gì để chơi?”, một linh cảm bất an, ông đi về phía hồ, ông lặng người, con ông đã chết, chết đuối trong hồ nước. Ông bật khóc: “Bố xin lỗi, bố đã vô tình giết chết con!”
  Ông đã vô tình giết chết con mình, vì khi biến chú ếch thành người, ông lại quên biến trái tim, vẫn để chàng trai mang trong mình trái tim loài ếch.    


Vô Thường
Thủ Thiêm.8.11.2010